Showing posts with label Bùa Ngải. Show all posts
Showing posts with label Bùa Ngải. Show all posts

Monday, November 30, 2015

Bí ẩn lạ lùng về túi bùa thiêng xứ Mường

Người nào được mang túi bùa này sẽ tránh được ma tà và được cả xứ Mường nể trọng. Túi bùa còn là tài sản lớn, vô giá được truyền từ đời này sang đời khác.


Trong túi bùa gồm có răng lợn lòi, sừng sơn dương, chuông đồng cổ, răng đười ươi… Hiện cả xứ Mường chỉ còn duy nhất một túi bùa hội tụ đầy đủ những vật thiêng đó do mo Bùi Văn Lựng giữ gìn.


Nhà mo Lựng ở giữa bản Lầm (xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, Hòa Bình). Phía trong ngôi nhà sàn 5 gian rộng rãi, thoáng mát, mọi thứ được sắp xếp gọn gàng. Trong số những đồ vật quen thuộc của người Mường được trưng bày như sừng trâu, sừng sơn dương treo ở cột nhà sàn, chúng tôi thấy ở gian ngoài cùng của ngôi nhà mo Lựng treo rất nhiều thứ. Chỗ đó còn là nơi đặt bàn thờ cúng tổ tiên của mo Lựng. Cạnh bàn thờ là vô số khâu dao được ông xỏ chúng lại vào mấy con sào. 

“Khâu dao để làm vía khi đi mo đấy, chúng có tác dụng trừ âm, tạo dương khí… Khi đọc mo, tôi thường đeo chúng vào đầu ngón chân với mục đích trừ ma tà. Con dao rất quen thuộc với người Mường; đi nương, đi rẫy đám trai Mường đều dắt theo con dao bên sườn. Do vậy khâu dao có tính dương khí rất mạnh”, mo Lựng cho biết. 

Túi khót thiêng và vô giá 


Sau một hồi tiếp chuyện, uống với nhau vài chén rượu, hỏi han chuyện gia đình, bản quán, khi giữa chủ và khách đã không còn khoảng cách, mo Lựng mới mở lòng: "Tôi đang giữ túi khót thiêng của dòng họ Bùi ở Mường Bi. Trong số những thầy mo ở xứ Mường hiện chỉ tôi mới có đầy đủ những vật thiêng mà thầy mo cần có"… 

Mo Lựng đang là người giữ gìn những vật thiêng của dòng họ Bùi 

Nghe mo Lựng nói vậy, chúng tôi nóng lòng muốn xem túi khót thiêng đó, mo Lựng giơ tay lên ngăn lại: “Ấy dà, cái này chỉ những người thân thiết lắm mới được xem. Không phải ai cũng có cơ duyên được tận mắt thấy những thứ này đâu”. Trước khi hạ túi bùa thiêng để ở nơi trang trọng nhất của ngôi nhà xuống, mo Lựng đã diễn xướng cho chúng tôi nghe nhiều bài mo.

Trong đó có bài đón khách đến chơi nhà, tuy không hiểu được tiếng Mường nhưng qua âm điệu êm ái và nét mặt của mo Lựng khi diễn xướng, chúng tôi cảm thấy được sự đón tiếp nồng hậu. Khi mo hết một bài, ông Lựng mới nhẹ nhàng đứng dậy, ông vuốt nếp quần áo cho phẳng rồi dùng 2 tay kính cẩn khấn vái tổ tiên, sau đó mới hạ túi khót thiêng xuống. Tất cả mọi hành động của ông đều tỏ một lòng thành kính với tổ tiên. 

Những đồ vật quý được đựng trong túi lưới. Mo Lựng nhẹ nhàng mở túi lưới ra cho người khách lạ chiêm ngưỡng. Đôi bàn tay mo Lựng run run khi lấy từng đồ vật trong túi ra. Những bảo bối tưởng như đã thất truyền và rơi vào tủ trưng bày của những tay buôn đồ cổ thì mo Lựng vẫn giữ được cả. Giống như một người kiểm kê ở kho cổ vật, mo Lựng lần lượt giới thiệu, thứ có màu vàng dài gần 20cm cong vút lên kia là răng lợn lòi, rồi răng hổ, sừng sơn dương cùng nhiều hòn đá giống như các công cụ của người thời tiền sử.

Răng đười ươi

Bộ răng lợn lòi 

Trước khi đến nhà mo Lựng, tôi may mắn được gặp mấy vị chức sắc của Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình, họ bảo rằng, mo Lựng có những thứ đồ cổ đến ngay cả các nhà khảo cứu văn hoá đều bất ngờ. Vì trước đây họ chỉ biết người Mường dùng đá quý, gỗ hóa thạch, rìu đồng của thời Đông Sơn và những cổ vật bằng đá để làm bùa trong nghi lễ cầu mùa, giải hạn, làm nhà mới, tang ma... chứ chưa biết những thứ đó đặc biệt hiệu nghiệm để trị liệu sức khỏe. 

Mo Lựng bảo rằng: “Nhà nào có người bị ốm đau, tôi đổ các thứ đựng trong túi bùa ra chiếc chậu sạch, lấy chai nước suối đầu nguồn hoặc chai nước tinh khiết ngâm chúng và trì chú một số đoạn trong sử thi “Đẻ đất đẻ nước”, rồi cho người bệnh rửa mặt và uống thứ nước đó”. Không những vậy, trong số những vật quý này có sừng của con sơn dương trị cảm mạo rất hiệu quả. Cách làm rất đơn giản, dùng tro nóng cho vào trong sừng sơn dương rồi áp vào trán của người bị cảm. Chỉ sau đôi lần là cảm mạo bay đi cả.

Mọ Lựng luôn tự hào rằng: “Ở cái bản Lầm này, từ trước đến nay chẳng ai phải uống thuốc cảm cả. Vì sao sừng sơn dương lại chữa được khỏi bệnh cảm, ngay cả tôi cũng không giải thích được. Các cụ trước đây bảo như vậy nên đời chúng tôi cứ thế mà theo”.

Túi bùa của dòng họ Bùi có đủ thứ đá quý độc đáo, có thể trị từ những vết thương sưng tấy đến thấp khớp. Những vật thiêng trong túi bùa của mo Lựng được lưu truyền qua rất nhiều đời nên rất cổ và nhẵn bóng. Túi bùa của mo Lựng có thạch anh trắng, nhiều đồ vật đã hóa thạch với đá cuội, lưỡi rìu xéo bằng đồng thau có pha vàng, đặc biệt là chiếc chuông đồng cổ để làm phép. Chiếc chuông này đã mòn vẹt, xung quanh khắc chữ Hán cổ. Đi cùng bộ với chiếc chuông đồng nhỏ là 1 con nghê to bằng ngón tay. Con nghê này rất nặng nghe đâu được làm từ vàng ròng. Theo nghiên cứu của các chuyên gia văn hóa Phần Lan, chiếng chuông cổ có niên đại hơn 2.000 năm.

Chiếc chuông cổ niên đại hơn 2000 năm 

Trong số bảo bối dòng họ Bùi có bộ răng hàm tinh tinh hóa thạch là vật thiêng độc nhất vô nhị, cả Mường Bi không ai có.

Trong túi còn có 2 răng cửa hà mã, hàm tinh tinh, thạch anh, sừng tê giác... hoá thạch làm tăng linh khí cho con người, nhất là đàn ông yếu sinh lực. 

7 đời làm thầy mo 


Ông Lựng sinh ra trong một gia đình đông anh em. Ông nội của mo Lựng là đời mo thứ 6 và đến đời mo Lựng là đời thứ 7 được hưởng lộc làm thầy mo. Theo lời mo Lựng, năm 29 tuổi ông mới chính thức được truyền dạy các bài mo. 

Mỗi lần ông nội đi cúng lễ ở đâu, mo Lựng được cắp tráp theo hầu. Khi ông nội đọc các bài mo, người học phải nằm ở 1 góc nhà và tự ghi nhớ lấy. Nếu chỉ học mo theo cách đơn thuần là học thuộc lòng theo sách thì rất khó nhớ. Cách học mo dễ hiểu nhất là ghi âm mo ra sách, đọc vài lần và chủ yếu là thực hành trên thực tế gắn liền với ghi lễ. Vừa đọc sách, vừa thực hành sẽ bổ trợ cho nhau rất nhiều. 

Thực tế là các bài mo có khi dài vài chục nghìn câu thơ mà học thuộc lòng sẽ rất khó. Mo Lựng bảo, học được các bài mo còn được tiếp sức của các cụ tổ tiên nữa. Thường trong lúc ngủ mo Lựng được họ truyền dạy. 

Chẳng thế mà trong thời gian ngắn ông đã có thể thuộc nằm lòng sử thi “Tá cần, tá cài” (Đẻ đất, đẻ nước). Độ dài của sử thi này là 500 trang sách. Với một người bình thường có học cả đời cũng không thể học thuộc lòng cuốn sử thi này. Chỉ có những người được người âm giúp mới học được. Không những thế, mo Lựng còn thuộc hàng nghìn bài mo khác.

Linh Nhi (NNVN)

Thursday, November 26, 2015

Phù thủy phương Bắc bó tay trước âm mưu trấn yểm Đường Lâm

Biết Đường Lâm là đất đế vương, trấn yểm Đường Lâm nhiều long mạch, Cao Biền đã dùng pháp thuật trấn yểm nhưng thất bại vì vương khí vượng, linh thần mạnh.


Đường Lâm nức tiếng “đất hai Vua”, là nơi sinh ra hai vị anh hùng dân tộc: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (761 – 802), người có sức khoẻ phi thường, vật được hổ dữ, có công đánh đuổi quân Đường; và Ngô Quyền (898 – 944), người chỉ huy trận chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, đánh tan quân xâm lược Nam Hán, giành độc lập cho đất nước sau nghìn năm Bắc thuộc.

Cổng làng Mông Phụ

Ngôi làng nằm trên thế đất hình rồng


Làng Đường Lâm cổ (nay là xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội) có tên nôm là Kẻ Mía. Tục danh này được bắt đầu từ một cái tên chữ: Cam Giá (Mía ngọt). Cam Giá xưa được chia thành hai tổng: Cam Giá Thượng và Cam Giá Hạ. Cam Giá Thượng là các xã thuộc miền Cam Thượng, Thanh Lũng, Bình Lũng…(nay thuộc về huyện Ba Vì). Còn Cam Giá Hạ là xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây).

Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng nhận xét: Đường Lâm là một địa danh có vị thế đắc địa theo thế “Tọa sơn vọng thủy” tức lưng tựa vào núi Tản (núi Ba Vì) – Núi Tổ của Việt Nam, mặt ngoảnh ra sông Hồng – sông Cái, sông Mẹ. Đây cũng là một “tứ giác nước” được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích, sông Đáy và sông Hồng. Về phong thủy, cuốn “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” viết: Sơn Tây có 36 huyệt chính và 85 huyệt bàng. Riêng đất Đường Lâm có huyệt đế vương.

Xã Đường Lâm hiện gồm chín làng: Mông Phụ, Cam Lâm, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Đông Sàng, Hà Tân, Hưng Thịnh, Phụ Khang và Văn Miếu. Trong đó, trọng tâm của làng cổ Đường Lâm được định vị là làng Mông Phụ. Nhìn một cách tổng thể, làng Mông Phụ nằm trên thế đất hình con rồng: Đầu rồng chính là nơi tọa lạc của đình Mông Phụ, hai mắt là hai giếng cạnh đình, râu rồng toả ra các ngõ xóm, đuôi vắt về xóm Sải. Đình Mông Phụ được xây dựng vào năm 1684 (niên hiệu Vĩnh Tộ đời vua Lê Hy Tông). Ngôi đình này mang đậm dấu ấn kiến trúc Việt Mường (có sàn gỗ) với những nét chạm khắc tinh tế có một không hai.

Ở Mông Phụ, mỗi xóm đều có một giếng mang tên của xóm. Giếng đào ở vùng đất đá ong nên mạch nước rất trong và mát. Các giếng xóm Hè, xóm Giang xưa kia nổi tiếng nước ngon đi vào tục ngữ: “Nước giếng Hè, chè Cam Lâm” hay “Nước giếng Giang, khoai lang đồng Bường”.

Tương truyền, hai giếng ở hai bên đình Mông Phụ là hai mắt của con rồng chột vì một giếng nước trong vắt còn giếng kia nước bị đục. Con rồng chột này lại tạo nên vị thế đắc địa cho đình Mông Phụ.

Nằm giữa ngã ba trung tâm của làng nhưng người đi ngược, về xuôi không ai quay lưng vào đình cả. Sân đình thấp so với mặt bằng xung quanh. Khi trời mưa nước chảy vào sân, theo hai cống tạo thành hình tượng hai râu rồng. Đây chính là dụng ý nghệ thuật đầy chất lãng mạn của các kiến trúc sư cổ.

Mắt rồng thứ nhất xác định là giếng đình Mông Phụ. Ở hướng Tây đình Mông Phụ có một giếng đá ong khác, miệng giếng nhỏ hơn nhưng sâu hơn nằm khuất trong một con ngõ. Giếng này được đào ở xóm Miễu nên gọi là giếng Miễu.

Giếng Miễu được ví như con mắt rồng còn lại – đối xứng với mắt rồng giếng đình Mông Phụ. Nước giếng Đình trong vắt, còn nước giếng Miễu đục, trở thành một điểm khuyết, là con mắt Rồng mờ. Nước giếng Miễu được sử dụng đối lập với nước giếng Đình, tức là chỉ để tắm giặt chứ không để ăn.

Tản Viên Sơn thánh được thờ làm thành hoàng các làng bởi công lao bảo vệ vùng đất này chống lại cuộc chiến của Thủy Tinh và là linh thần mạnh, khiến Cao Biền không thể trấn yểm núi Ba Vì và các vùng đất phụ cận.

Truyền thuyết cho rằng Cao Biền đã dùng pháp thuật đào 100 cái giếng xung quanh chân núi Ba Vì trong đó có Đường Lâm để triệt long mạch nước ta nhưng y cứ đào gần xong giếng nào thì giếng đó lại bị sập, nên đành phải bỏ cuộc. Cao Biền bị giết năm 887. Đường Lâm không thể trấn yểm, vài chục năm sau đã sinh ra Ngô Quyền, một trong 14 vị anh hùng dân tộc.

Vị vua thứ nhất: “Bố cái đại vương”


Theo văn bia ở đình Quảng Bá (quận Tây Hồ, Hà Nội), Phùng Hưng là người Cam Lâm, sinh khoảng năm 761 và mất vào năm 801, thọ 41 tuổi. Cha mẹ Phùng Hưng sinh ba được ba người con trai khôi ngô, tuấn tú, tài năng hơn người: anh cả là Phùng Hưng, em thứ hai là Phùng Hải và em út là Phùng Dĩnh. Năm ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất. Trong ba anh em, Phùng Hưng có sức khỏe phi thường và khí phách đặc biệt. Ông được sử sách và truyền thuyết dân gian lưu truyền về tài đánh trâu, quật hổ ở đất Đường Lâm. Có lần Phùng Hưng thấy hai con trâu mộng đang húc nhau, ông đã dùng tay kéo sừng hai con trâu ra không cho chúng đánh nhau nữa.

Trên những qủa đồi thuộc làng Cam Lâm có những cái tên: Đồi Cấm, Nghẽn Sơn, Vũng Hùm… in đậm dấu tích thời trai trẻ của ba anh em họ Phùng. Truyền thuyết kể lại: Thủa ấy trên đồi là rừng đại ngàn rậm rạp, dưới đồng lau lách um tùm. Năm ấy có một con cọp hung dữ về bắt bao mạng người. Dân trong vùng sợ hãi không dám vào đồi kiếm củi, hái chè. Đêm đêm, cọp dữ còn mò cả vào làng rình bắt trâu bò, lợn gà. Cả làng chưa nhọ mặt người đã vội vã về nhà, luồng lạch rấp kín, cổng ngõ buộc chặt, xóm làng eo óc nỗi sợ hãi rình rập bất cứ lúc nào.

Giếng đình Mông Phụ, mắt sáng của rồng

Một trai làng cực kỳ khoẻ mạnh quyết tâm diệt hổ dữ trừ họa cho dân làng. Lựa đêm một ngày tháng cuối đông gió Bấc se sắt thổi, khí lạnh trên đồi tràn về làm rờn rợn da người, chàng trai bện người nộm đem vào đồi đến bên mép nước cắm xuống, ba bốn đêm liền như thế…

Đêm ấy như bao đêm khác, hổ dữ ra vũng nước duy nhất còn sót lại trong vùng, trước khi vục đầu uống, hổ ta lấy tay tát đổ người nộm như mọi hôm thường vẫn thế. Nhưng nó đâu có ngờ hôm nay có một cánh tay rắn chắc đã túm chặt lấy đầu nó, liên hồi giáng xuống những quả đấm nặng như búa tạ. Chàng trai thông minh dũng cảm, có sức khoẻ phi phàm đó chính là Phùng Hưng.

Phùng Hưng là người anh hùng đầu tiên đã đánh chiếm lại thành Tống Bình (Hà Nội), trụ sở của chính quyền đô hộ lúc đó và xây dựng nền tự chủ trong khoảng gần chục năm. Bia ở đình Quảng Bá ghi: Năm Tân Mùi 791, mùa hạ, tháng 4, Phùng Hưng cùng các tướng lĩnh đem quân vây đánh thành Tống Bình. Quân của Phùng Hưng chia làm 5 đạo tiến công vây thành. Quân của Cao Chính Bình (khoảng hơn 4 vạn) đem ra chống cự.

Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt trong khoảng 7 ngày, quân địch chết nhiều, Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước được 7 năm thì mất. Nhân dân tôn vinh ông là Bố Cái Đại Vương (Vua Lớn). Sau khi Phùng Hưng mất, con trai là Phùng An nối nghiệp cha được hai năm thì chính quyền lại rơi vào tay giặc.

Sử liệu và truyền thuyết dân gian cho đến nay vẫn lưu truyền những câu chuyện về sự linh thiêng của vị Bố Cái Đại Vương. Sách “Việt điện u linh” viết rằng: “Sau khi mất, Bố Cái Đại Vương rất hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng vẳng nữa.

Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ Vương ở phía Tây của phủ đô hộ.

Đền thờ Vương rất linh thiêng, mọi việc cầu mưa, trấn yểm Đường Lâm cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó khăn như bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt”.

Vị vua thứ hai có “công tái tạo, vua của các vua” 


Về vị vua thứ hai của đất Đường Lâm, Ngô Quyền sinh năm Mậu Ngọ (898) ở Đường Lâm. “Đại Việt sử ký toàn thư” mô tả: “Ngô Quyền có dung mạo khác thường, lưng có ba nốt ruồi. Các thầy tướng cho là lạ, rằng có thể làm chủ được một phương, nhân đó mới đặt cho vua tên là Quyền. Khi vua lớn lên, tướng mạo khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, trí dũng hơn người, sức có thể nâng được vạc”. Ngô Quyền có võ nghệ tinh thông và có chí lớn. Ông từng tham gia xây dựng chính quyền họ Khúc ở Đại La, từng theo Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán, giải phóng thành Đại La năm 931.

Dương Đình Nghệ lên cầm quyền vẫn tự xưng là Tiết độ sứ, đóng tại thành Đại La. Ông phong cho Đinh Công Trứ (cha Đinh Bộ Lĩnh) chức thứ sử Hoan Châu, gả con gái là Dương Thị Như Ngọc cho Ngô Quyền và giao cho giữ Ái châu. Chính quyền họ Dương tồn tại bảy năm (931 – 937) thì Dương Đình Ngệ bị kẻ phản bội là Kiều Công Tiễn (một viên tướng dưới quyền) sát hại để đoạt chức.

Ngô Quyền với danh nghĩa là bộ tướng và con rể của Dương Đình Nghệ, đồng thời cũng là người đứng đầu liên minh Ngô – Dương, tập hợp lực lượng tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Bị cô lập, Kiều Công Tiễn hoảng sợ, vội vã sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Cung cho con là Vạn vương Lưu Hoằng Thao đem quân sang xâm lược nước ta.

Đền thờ Ngô Quyền

Mùa đông năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền đem quân vượt qua đèo Ba Dội, tiến như vũ bão vào thành Đại La, giết tên nội phản Kiều Công Tiễn, bêu đầu hắn trước cổng thành và nhanh chóng tổ chức kháng chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.

Để chống lại giặc mạnh, Ngô Quyền đưa ra kế hoạch độc đáo. Ông cho bố trí một trận địa cọc nhọn bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi nước triều lên ông cho nhử thuyền giặc vào bên trong hàng cọc, đợi khi thủy triều xuống sẽ dốc toàn sức tiêu diệt địch bằng một trận quyết chiến nhanh gọn.

Tháng 12 năm Mậu Tuất (938) các chiến thuyền của giặc hùng hổ vượt biển tiến vào sông Bạch Đằng. Chúng nghênh ngang tràn vào trận địa mai phục của Ngô Quyền, bị đánh bất ngờ nên chỉ trong một thời gian rất ngắn thuyền giặc bị đắm gần hết, quân giặc bị chết quá nửa. Máu chảy loang đỏ khúc sông, Hoằng Thao cũng bị đâm chết tại trận. Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra nhanh chóng khiến vua Nam Hán là Lưu Cung đóng quân ở sát biên giới mà không kịp tiếp ứng cho con.

Với mưu lược thần tình của mình, Ngô Quyền đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938, đập tan mưu đồ xâm lược của Nam Hán, tạo cơ sở để Ngô Quyền phát triển chính quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương thành chính quyền độc lập, kết thúc hơn một nghìn năm Bắc thuộc mở ra thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ cho Việt Nam.

Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương, lập ra nhà Ngô, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Ngô Quyền – người anh hùng của chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 – trở thành vị vua có “công tái tạo, vua của các vua” theo nhận định của Đại Việt Sử ký toàn thư. Ông xứng đáng với danh hiệu là “vị tổ trung hưng” của dân tộc như nhà yêu nước Phan Bội Châu khẳng định trong cuốn “Việt Nam quốc sử khảo”.

Chiến thắng Bạch Đằng cho thấy không chỉ Cao Biền bó tay mà cả đế chế Nam Hán hùng mạnh cũng thất bại thảm hại trước tinh thần quật khởi của nhân dân ta. Sau chiến thắng Bạch Đằng, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn. Đó là kỷ nguyên của văn minh Đại Việt, của văn hóa Thăng Long, kỷ nguyên phá Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, một kỷ nguyên rực rỡ của các nhà Lý, Trần, Lê.

Thực hiện: Lam Hạnh – Thư Trang - Xuangiao

Friday, November 20, 2015

Rùng rợn trước tội ác chế ‘bùa ngải’ làm từ… xác người

Ăn trộm tay người chết vì sét đánh, yểm bùa “tiểu quỷ” vào xác thai nhi, cắt đầu người chết… để thờ là những dạng bùa ngải hại người cầu lợi được dân mê tín dị đoan rỉ tai nhau là “rất linh”.


Bàn tay người chết vì sét đánh – “bảo bối” hành nghề đạo chích?


Người chết vì sét đánh vốn đã là cái chết thảm, nhiều người độc mồm còn bảo là bị “trời đánh”. Ấy thế mà xung quanh đó từ hàng trăm năm nay vẫn lưu truyền những lời đồn thổi huyền bí kiểu như: Những kẻ hành nghề đạo tặc muốn “phát tài”, “đánh đâu thắng đó” thì có một cách đó là đào trộm mộ người chết vì sét đánh, chặt một bàn tay đem về yểm.

Người thì bảo có bàn tay ấy, kẻ trộm trước khi hành sự chỉ việc cho lên bàn thờ khấn, bàn tay đó chỉ về hướng nào thì đi ăn trộm hướng đó sẽ thành công. Kẻ thì bảo đem bàn tay đó đi ăn trộm, nếu chủ nhà chẳng may phát hiện thì chỉ việc huơ trước mặt thì chủ nhà thì chủ nhà chỉ có nước đứng im bất động cho trộm khoắng hết đồ đạc.

Nạn đào trộm mộ người bị sét đánh từng khuynh đảo các vùng quê.

Còn nếu lấy được răng người chết rang vàng rồi hạ thổ, tán nhỏ uống sẽ chữa được bách bệnh. Lại có tin là lấy được xương bánh chè tay hoặc chân của người chết mài ra sắc uống sẽ chữa được nhiều bệnh, đặc biệt người tâm thần uống nước này thì bệnh sẽ dứt ngay. Hay ai có đốt sống lưng của người bị “thiên lôi” đánh làm bùa treo ở cổ thì sẽ không bao giờ bị bệnh, thậm chí là HIV.

Vì vậy, những gia đình có người chết vì sét đánh thường phải đào huyệt sâu tới hơn 2m, xung quang giăng dây thép gai, thậm chí còn phải đổ bê tông chắc chắn và canh giữ cẩn thận cho đủ 100 ngày để không bị đào trộm mộ.

Yểm bùa “tiểu quỷ” lên xác thai nhi


Thứ bùa ngải thần bí này nếu có dùng cũng ít ai nói ra, thậm chí với cả người thân. Những lúc các ông trà dư tửu hậu, nếu có buột miệng lỡ nói thì cũng lập tức khựng lại. Bùa “quỹ nhi” được sử dụng rất rộng rãi bên các nước Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan… Còn ở xứ ta chưa thấy ai dùng (hoặc chưa bị lộ).

Một nhà nghiên cứu huyền thuật có tiếng cho biết: Bùa quỹ nhi xuất phát từ Thái Lan còn gọi là bùa Xiêm. Ở Thái rất phổ biến loại này nên người nổi tiếng, thương gia khắp Á Đông thường xuyên qua đó mua về thờ. Chúng được làm từ những thai nhi đã chết, tẩm ướp đặc biệt. Người dùng thường để ở nơi kín đáo, giấu biệt cả người thân trong nhà cũng khó biết.

Bùa ngải “tiểu quỷ” làm bằng xác thai nhi.

Theo quan niệm, muốn làm được bùa, nhất thiết phải có thi thể sinh linh nhỏ bé đó để điều khiển linh hồn chúng. Vì vậy, nhiều kẻ mù quáng nạo phá thai, dùng chính giọt máu của mình để có được loại bùa này. Nếu là song thai thì phúc càng lớn. Bùa quỷ nhi thường được dùng để sinh tài lộc, người kinh doanh buôn bán dùng bùa thì được nhiều khách hàng, đối tác. Những kẻ tà tâm thường dùng loại bùa này để quấy phá đối thủ của mình, nhẹ thì thất bát, nặng thì lâm bệnh.

“Tuyệt nhiên, thứ bùa này không thể dùng để đoạt mạng người. Vì năng lực của trẻ con có hạn, không thể dùng vào việc đó” – nhà huyền thuật này cho biết. Về sự linh nghiệm của loại bùa này ông cũng chưa từng được chứng kiến bao giờ, chỉ nghe qua chuyện kể.

Yểm bùa Thiên Linh Cái từ… đầu trinh nữ


Theo một số nhà huyền thuật, Thiên Linh Cái là dạng bùa ngải độc ác nhất trong các dạng bùa ngải. Bởi đây là loại bùa ngải được luyện từ đầu trinh nữ. Loại này là hình thức “thỏa hiệp” với vong hồn người chết. Người sống được vong hồn này giúp đỡ, ngược lại vong hồn được yêu thương, chăm sóc. Loại bùa này được biết đến với chức năng “thám tử”, tức là thu thập tin tức từ nơi mà người sử dụng muốn biết. Cao hơn, có thể xui khiến vong hồn đoạt mạng đối thủ. Có trường phái chỉ cần thuyên luyện, kêu gọi vong hồn. Nhưng cũng có trường phái phải thông qua công cụ để giữ vong hồn đó chính là chiếc sọ người chết.

14 năm trước, ở Đồng Tháp từng xảy ra vụ giết người hàng loạt gây chấn động dư luận cả nước xuất phát từ việc luyện loại bùa này. Ở cù lao xãTân Bình (huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), xuất hiện một người đàn ông tên Phạm Văn Tuấn (54 tuổi) tự xưng hành nghề thầy thuốc danh xưng Hai Tưng rất được người dân cảm tình vì bốc thuốc không lấy tiền. Sau đó, thầy Hai Tưng còn vẽ bùa giải hạn cho dân làng và nhiều lần ứng nghiệm nên ngày càng được tin tưởng. Dân xã không ngờ ông thầy bùa ấy đang mộng luyện thành bùa phép Thiên Linh Cái bằng cách giết người lấy sọ.

Bị cáo Phạm Văn Tuấn đã phải trả giá đắt vì luyện Thiên Linh Cái.

Đêm cuối tháng 5/2000, một cô gái Trần Thị Phương, 25 tuổi, đến nhà thầy Hai Tưng để xin bùa. Thầy Hai Tưng dặn trước phải chui vào một chỗ thủng ở tường rào vào nhà thầy mới thiêng. Tin lời, cô gái trẻ tìm đến. Vừa chui đầu qua lỗ thủng, ông thầy đã cầm sẵn khúc cây vụt liên tiếp vào đầu cô gái. Nạn nhân chết, thầy Hai Tưng cắt thủ cấp và chôn xác cô sau vườn. Sau khi vụ việc vỡ lở, công an phát hiện ở căn mật thất trong nhà lá của ông này thêm 3 chiếc đầu lâu khác đặt trên bàn thờ nghi ngút khói nhang và một mớ những giấy bùa ma giáo. Tên thầy bùa mê muội và khát máu bị tử hình không lâu sau đó.

Bùa ngải có thật sự linh ứng hay không, đến nay khoa học vẫn chưa có lời giải đáp. Sức mạnh của bùa ngải cũng chỉ được rỉ tai nhau trong dân gian chứ chưa có kiểm chứng. Vì vậy, không nên tin mù quáng mà gây nên những hậu quả đau lòng. Bị cáo Phạm Văn Tuấn là một minh chứng rõ ràng nhất cho việc u mê bùa ngải mà giết người dã man. Tuấn đã phải trả giá xứng đáng cho tội ác của mình mà không một thế lực đen tối nào có thể ngăn cản được.

Theo phunutoday